Lịch sử võ thuật

Võ là hệ thống các kỹ năng được sử dụng trong chiến đấu. Võ thuật là nghệ thuật chiến đấu. Võ thuật được đúc kết tinh hoa từ xa xưa, là kinh nghiệm và bí quyết mà cha ông ta đã sáng tạo, trải nghiệm và truyền thụ lại cho con cháu ngày nay.

Võ thuật được hình thành từ khi nào, ở đâu, do ai đều khó có thể trả lời và kiểm chứng. Như ta đã biết, lịch sử cổ đại cho đến ngày nay, các loài sinh vật sống trên Trái Đất này đều phải trải qua vô số cuộc chiến sinh tồn để tồn tại, để tiến hóa. Các loài động thực vật phải phát triển các tế bào để phù hợp với điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên, phải chiến đấu để tranh giành sự sống. Động vật mạnh hơn ăn thịt động vật yếu hơn, con người ăn thịt động vật để tồn tại. Cuộc chiến sinh tồn ấy trải khắp lịch sử hình thành và phát triển của thế giới. Qua vô số cuộc chiến với mức độ dày đặc như vậy, các loài động vật kể cả con người dần đúc kết được những kiến thức để sinh tồn, các kỹ năng để chiến đấu. Sau này, cùng với sự hình thành các bộ tộc hay quốc gia của loài người, các cuộc chiến để tranh giành địa bàn nổ ra ngày càng đòi hỏi con người phải nâng cao kỹ năng chiến đấu, rèn luyện nhiều hình thức chiến đấu khác nhau để có thể chiếm ưu thế trên chiến trường.

Qua đó ta có thể thấy nền móng và sự phát triển của võ thuật đã có từ xưa lắm. Nhưng con người lại chưa có định nghĩa về “võ thuật”. Họ tập luyện và chiến đấu theo bản năng sinh tồn và các điều kiện thực tế yêu cầu họ phải làm vậy để tồn tại. Vậy “võ thuật” bắt nguồn từ đâu?

“Thiên hạ công phu xuất Thiếu Lâm” – câu nói này có vẻ như một định nghĩa về sự hình thành của võ thuật. Như đã nói ở trên, lịch sử hình thành và phát triển của loài người đều có sự tồn tại của “võ thuật” nhưng lại chưa có định nghĩa rõ ràng về “võ thuật”. Theo tham khảo một số tài liệu, chúng tôi tin rằng từ “võ thuật” có cội nguồn từ một câu chuyện lịch sử đã trở thành truyền thuyết như sau:

Bồ Đề Đạt Ma, tên thật là Bồ Đề Đa La, con trai thứ ba của vua Nam Thiên Trúc, thuộc dòng Sát Đế Lợi. Về sau Ngài đi tu và gặp Tổ Bát Nhã Đa La, đời thứ 27 của Phật giáo Thiên Trúc. Ngài được truyền Y Bát làm Tổ đời 28. Ngày 21 tháng 7 năm Mậu Tuất (năm 518 sau tây Lịch), Ngài lên thuyền vượt biển sang trung Hoa. Vua Lương Võ Đế hay tin liền mời Ngài về Kim Lăng để hội kiến, nhưng vì ý không hợp nhau nên chia tay. Đạt Ma Tổ Sư bứt một cọng lau ném xuống sông, rồi đứng trên đó mà vượt Trường Giang (cước đạp lô điệp quá giang). Năm Hiếu Xương thứ ba, đời Bắc Ngụy (527), Bồ Đề Đạt Ma đến Tung Sơn Tự. Tại đây, Ngài thấy nhiều nhà sư có thể trạng yếu đuối, thường hay ngủ gật trong lúc Ngài thuyết giảng và không chịu nổi với khí lạnh bên ngoài của núi rừng xâm nhập. Vì thế, Ngài quyết định tham thiền để tìm cách giúp đỡ những nhà sư này. Kết quả sau 9 năm diện bích trong động Thiếu Thất, Ngài đã đúc kết hết thảy tinh yếu vào trong hai cuốn Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh, trở thành nền tảng của Công phu Thiếu Lâm.

Sau khi Bồ Đề Đạt Ma viên tịch, các Đại sư Thiếu Lâm tiếp tục tập luyện những phương thức do Ngài truyền lại. Dịch Cân Kinh chuyên về rèn luyện nội công, còn Tẩy Thủy Kinh thì rèn luyện khí công. Chẳng bao lâu, các Đại sư nhận ra rằng việc luyện tập Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh không những làm sức khỏe tăng tiến, cơ thể mạnh mẽ mà tinh thần càng phấn chấn, trầm tĩnh, có thể chống lại khí hậu lạnh lẽo của núi rừng, bệnh tật, mệt mỏi sau khi ngồi thiền và có thể dũng cảm vượt qua những khó khăn, nguy hiểm trong lúc đi hành đạo.

Võ thuật Thiếu Lâm được phát triển mạnh mẽ vào đời Đường (618 – 907), sau khi 13 võ tăng giúp Đường vương Lý Thế Dân phá trận Vương Thế Sung (630).  Võ thuật Thiếu Lâm nguyên thuỷ có 18 thế chính yếu (La hán thập bát thủ). Đến đời Tống, Tống Thái Tổ phát triển thành 32 thế Trường quyền. Một thế kỷ sau, Giác Viễn Thượng Nhân mở rộng thành 72 thế (thất thập nhị huyền công). Từ đó, trải qua các thời đại, các Đại sư không ngừng rèn luyện và sáng tạo thêm, khiến cho võ thuật Thiếu Lâm ngày càng phong phú và đồ sộ. Đến đời nhà Minh, tùy theo sở thích, căn cơ và phong thổ mà môn phái Thiếu Lâm chia làm hai hệ phái: Bắc phái (bắc cước) và Nam phái (Nam quyền). Đỉnh cao của võ thuật Thiếu Lâm là vào đời nhà Thanh, không những võ học phát triển trong tăng nhân mà còn truyền ra bên ngoài, đi vào đời sống người dân, tạo nguồn sức sống mạnh mẽ, nâng cao tinh thần thượng võ, cứu nguy giúp nước.

Võ thuật phát triển mạnh mẽ trong dân gian hình thành nhiều môn phái. Tùy từng đặc thù, quan điểm, kinh nghiệm và mục tiêu tập luyện mà các phái trọng cương hay nhu; trọng thủ pháp hay cước pháp; trọng dưỡng sinh hay chiến đấu. Tất cả làm nên một nền võ thuật đa dạng phong phú cho Trung Hoa – cái nôi của nền võ học thế giới.

Dần dà, võ thuật Trung Hoa vượt biên giới sang hải ngoại phát triển thành các môn phái mới, bổ sung thêm nhiều kỹ thuật phù hợp với thể trạng dân tộc mà hình thành nên “quốc võ” ở một số quốc gia.

1. Một số môn phái nổi tiếng ở Trung Quốc:

Như đã nói ở trên, các môn phái võ thuật Trung Quốc đều xuất xứ từ “cái nôi” Thiếu Lâm. Các cao thủ Thiếu Lâm xuống núi hành đạo, trừ gian diệt ác, tùy vào từng hoàn cảnh và trải nghiệm mà đi khắp đất nước lập nên các môn phái, thu nạp đồ đệ. Một số môn phái lớn có ảnh hưởng từ Thiếu Lâm còn lưu danh tới ngày nay là: Thái Cực Quyền, Hồng Gia Quyền, Vịnh Xuân Quyền…

Thái Cực Quyền, Vịnh Xuân Quyền thuộc loại Nhu quyền. Phương pháp tập luyện hai loại quyền pháp này có nét tương đồng nhau, hướng đến mượn lực thắng lực, bốn lạng đẩy ngàn cân, tránh né luồn lách tìm cơ hội tấn công vào yếu huyệt, cố gắng hạ đối phương trong thời gian ngắn nhất.

Quyền pháp của Thái Cực Quyền nhu nhuyễn, tinh tế, đẹp mắt; trong nhu có cương, vận khí đi quyền uyển chuyển, rõ ràng. Trong khi đó bài quyền Vịnh Xuân chú trọng đơn giản, tập trung rèn luyện thủ pháp, gân lực; phát triển kỹ năng thông qua tinh luyện đơn thủ, niêm thủ, song đấu.

Hồng Gia Quyền chú trọng luyện nội công, đòn pháp dũng mãnh, có sức công phá cao. Người luyện Hồng Gia Quyền lâu năm có thể có sức mạnh phi thường, làm được những việc mà người bình thường khó thực hiện.

Binh khí trong võ thuật Trung Quốc đa dạng phong phú, qua nhiều thời kỳ được phát triển và tổng hợp thành 18 loại (thập bát ban võ nghệ) bao gồm: thương, kích, côn, việt (đại phủ: búa lớn), soa (đinh ba), đường (đường ba: bồ cào), câu (móc câu), sóc (trường mâu: giáo dài), hoàn (vòng), đao, kiếm, quải (gậy), phủ (búa), tiên (roi), giản (roi 4 cạnh), chùy, bổng (gậy), chử (chày).

Về dụng cụ tập luyện, các nhà võ thuật Trung Quốc thường sử dụng những đồ dùng gần gũi với đời sống hàng ngày để luyện tập. Cách tập luyện cũng hết sức đơn giản, không cầu kỳ, hoa mỹ.

Ví dụ như các võ tăng Thiếu Lâm thường dậy rất sớm chạy bộ từ đỉnh núi Thiếu Thất xuống chân núi để lấy nước, rồi hai tay hai gàu chạy ngược lên đỉnh núi để đổ vào lu nước. Khi các lu nước đầy thì bài tập khởi động buổi sáng của họ cũng đã xong bước vào một ngày tập luyện nghiêm túc, gian khổ. Họ sử dụng các loại cọc gỗ để tập tấn pháp (bộ pháp); các đòn đánh bằng thủ pháp, cước pháp vào cọc gỗ làm cơ thể tăng sức chịu đựng, cứng rắn như sắt thép. Các lu nước đổ đầy cát rang nóng để tập chỉ pháp; tay chân mang túi cát hay sắt thép để luyện tập quyền pháp, khinh công, nội công.

Trong môn Vịnh Xuân Quyền, người tập sử dụng mộc nhân (một loại cọc gỗ có gắn 03 tay và 01 chân) để luyện tập tất cả các thủ pháp đặc trưng, đồng thời sử dụng như một loại đối thủ tưởng tượng để luyện tập thân pháp, ly thủ, niêm thủ. Ngoài ra còn các dụng cụ khác cũng được áp dụng như vòng xuyến (thường bằng thép hay mây) để tập luyện khuôn tay, vòng thiết tuyến (loại vòng này cũng được sử dụng phổ biến trong môn Hồng Gia Quyền) để tập luyện nội công, bi thép (hoặc bằng đá) để luyện cầm nã thủ…và còn nhiều loại dụng cụ khác để phát triển thể lực, kỹ năng chiến đấu. Binh khí nổi bật trong Vịnh Xuân Quyền có hai loại là Bát Trảm Đao (Song tô) và Lục Điểm Bán Côn (Côn sáu khúc rưỡi).

Tóm lại, tùy từng mục đích tập luyện, các môn phái phát triển thành các cách thức tập luyện khác nhau, tạo nên các loại dụng cụ và binh khí phù hợp với môn phái của mình. Tất cả tạo nên một nền võ thuật đa dạng tạo tiền đề cho sự phát triển của võ thuật thế giới.

2. Võ thuật Nhật Bản:

Nhật Bản là đất nước có nền võ thuật chịu ảnh hưởng rất lớn từ Trung Hoa. Qua các cuộc chiến trải qua hàng trăm năm, hai nước dần học hỏi và bổ sung lẫn nhau các kỹ thuật để hoàn thiện bản lĩnh võ công và tạo đặc trưng riêng của mỗi quốc gia. Võ thuật Nhật Bản ngày nay được nhiều quốc gia yêu thích tập luyện vì tính thể thao hóa và phổ cập trong quần chúng. Một số môn võ nổi tiểng ở Nhật Bản vẫn còn tồn tại và phát triển cho tới ngày nay là: Karatedo, Judo, Aikido, Sumo…

Karatedo (Không thủ đạo) tương truyền được du nhập từ Trung Quốc vào quần đảo Okinawa (quê hương của Karate) dưới tên gọi là Đường thủ. Dần dần, các kỹ thuật Karate được cải biên cho phù hợp với thể trạng và tính cách của người Nhật Bản để tạo nên hệ thống kỹ thuật Karate hoàn chỉnh như ngày nay.

Trong các bộ phim tài liệu mà chúng ta từng được xem, có thể thấy các cao thủ Karate thường là những người có thể hình cân đối, ý chí ngoan cường, tay chân cứng rắn như sắt thép, có thể chặt gạch phá đá, thực hiện những bài công phá kinh người. Họ phải trải qua quá trình rèn luyện khắc nghiệt, đổ mồ hôi và cả máu để đạt được thành tựu. Karate nổi tiếng là nghệ thuật chiến đấu với các đòn đặc trưng như đấm, đá, cú đánh cùi chỏ, đầu gối và các kỹ thuật đánh bằng bàn tay mở. Trong Karate còn có các kỹ thuật đấm móc, các kỹ thuật đấm đá liên hoàn, các đòn khóa, chặn, né, quật ngã và những miếng đánh vào chỗ hiểm. Để tăng sức cho các động tác tấn đỡ, Karate sử dụng kỹ thuật xoay hông hay kỹ thuật kime, để tập trung lực năng lượng toàn cơ thể vào thời điểm tác động của cú đánh.

Một dụng cụ tập luyện mà các võ sinh Karate ưa dùng là trụ Makiwara (một loại mộc nhân gần giống võ thuật Trung Quốc). Khi tập với trụ đấm, võ sinh sẽ tập được cảm giác đòn, cảm giác lực, độ chính xác nhuần nhuyễn của đòn thế. Makiwara được sử dụng tập cả nội công lẫn ngoại công. Nội công tức là khả năng tập trung sức mạnh tức thì tung một đòn mạnh nhất, còn ngoại công là khả năng chống chịu va chạm đòn với các vật cứng. Đây là bài tập không thể thiếu đối với 1 võ sinh karate.

Binh khí trong môn Karate nói riêng hay trong võ thuật Nhật Bản nói chung được sáng tạo dựa trên những vật dụng hàng ngày sử dụng trong sinh hoạt, sản xuất như:

·        Nunchaku (còn gọi là So Setsu Kon): Phát triển từ chiếc néo kẹp lúa đập lấy hạt, bao gồm hai đoạn gỗ hình bát giác mỗi đoạn dài khoảng 30cm, nối nhau bằng một đoạn dây thừng hoặc xích dài 15cm. Nunchaku có thể tấn công tầm rộng và hẹp.

·        Sai (còn gọi là Jutte, Nunte): Phát triển từ chĩa trồng cây, bằng sắt, có một lưỡi dài hình tròn hoặc bát giác nhưng mũi không nhọn và có hai ngạnh cong đối xứng hai bên còn gọi là Yoku.

·        Tonfa (còn gọi là Tunfa, Tuifa): Phát triển từ tay quay (đòn xay) của cối xay bằng đá. Nó làm bằng gỗ sồi, trắc,… có thể cầm ở đoạn ngắn hoặc đoạn dài để chiến đấu.

·        Bo (còn gọi là Kun, Rokushakubo): Trường côn bằng gỗ sồi, trắc, tre dài khoảng 1m82, rộng khoảng 3cm. Thông thường nặng trên 0,9kg.

·        Kama: Phát triển từ liềm gặt, cán bằng gỗ, lưỡi bằng sắt, một cạnh sắc. Có loại được gắn thêm dây nối vào đuôi cán để tạo đòn đánh bất ngờ.

·        Manriki Gusari (còn gọi là Xích vạn năng): Phát triển từ sợi dây gai dầu buộc hai hòn đá hai đầu. Ngày nay, người ta thay bằng xích và hai đầu kim loại nặng (hoặc mũi giáo). Sức công phá rất lớn, ưu thế của nó là tấn công tầm hẹp và rộng.

·        Tambo (còn gọi là Tanbo): Là song đoản côn cân bằng nhau, làm bằng gỗ hoặc tre, dài từ hông tới mắt cá chân. Kỹ thuật tương tự Kiếm thuật.

·        San Setsu Kon: Tương tự với Nunchaku nhưng với ba đoạn gỗ nối với nhau bằng dây hoặc xích. Tầm tấn công rộng và lực mạnh.

·        Tekko (còn gọi là Chize Kun Bo, Tek Chu): Phát triển từ cái bàn đạp ngựa, cán bằng gỗ hoặc sắt, vòng bán nguyệt bằng kim loại đúc. Người tập tròng vào nắm tay để tăng hiệu quả công phá của đòn.

·        Tinbe Rochin: Một bộ bao gồm thuẫn (Tinbe) bằng gỗ hoặc kim loại, kích thước khoảng 45cm x 38cm và mâu (giáo, kích) ngắn (Rochin), chiều dài khoảng cánh tay.

·         Eku (còn gọi là Eiku hay Ieku): Phát triển từ mái chèo làm bằng gỗ cứng, dài khoảng 1m60, nặng hơn Bo nên sức công phá rất lớn.

·        Kuwa: Phát triển từ cây cuốc, cán bằng gỗ, đầu chữ nhật bằng sắt (có thể dạng đinh ba), dài khoảng 1m50.

·        Nunti Bo: Trường thương với cán gỗ và đầu bằng sắt có hình dáng của Manji Sai với hai ngạnh trái chiều.

·        Manji Sai: Có hai móc ngạnh trái chiều. Đây là Sai đương đại, được tất cả các võ sĩ sử dụng trong hệ thống Kobudo đào tạo đến ngày hôm nay. Sức công phá rất lớn, ưu thế của nó là tấn công tầm hẹp và rộng.

·        Naginata: Là một vũ khí nặng hơn Bo và dài trên 2m. Sức công phá rất lớn, hiệu quả khi chống lại kiếm dài, nó là một trong những vũ khí duyên dáng của hệ thống chiến đấu cổ điển.

·        Kusari Gama (Kama): Phát triển từ liềm gặt, nối liền phần đầu (hoặc chuôi) của liềm là sợi dây xích dài khoảng 4m với một thỏi sắt để niêm bắt hóa giải vũ khí, sau đó đâm hoặc cắt đối phương. Tầm tấn công rộng và hẹp.

·        Sho Setsu Kon: Là côn cực nhỏ làm bằng kim loại (hoặc gỗ nặng) có đường kính 2cm, dài 15cm. Sức công phá của nó rất lớn nếu người tập sử dụng thành thạo đánh trúng yếu huyệt của đối phương.

·        Shuriken (còn gọi là Phi tiêu): Nó bắt nguồn từ cách sử dụng những mũi dao nhọn bằng thép dài từ 7 đến 22cm. Qua nhiều giai đoạn phát triển, nghệ thuật ném phi tiêu (Shuriken Jutsu) đã thay đổi nhiều hình dáng và kích cỡ (Shaken).

Qua đó, chúng ta có thể thấy việc sử dụng vũ khí chẳng qua là sự nối dài của cánh tay, làm tác động hiệu quả hơn lên đối phương và tăng mức độ sát thương. Sự phát triển của binh khí song hành cùng sự phát triển của nền võ thuật tay không (không thủ đạo) trên toàn thế giới, tạo nên một tổ hợp đa dạng các trường phái võ thuật phát triển mạnh mẽ đến ngày nay.

3. Võ thuật Hàn Quốc:

Hàn Quốc – xứ sở kim chi cũng là một đất nước có truyền thống võ học lâu đời. Theo một số tài liệu khảo cổ, các nghệ thuật chiến đấu cổ truyền của Hàn Quốc đã bắt nguồn từ thời kỳ Cao Ly năm 37 trước Công Nguyên, trên các bức vẽ được tìm thấy mô tả hình ảnh những người đàn ông đang tập luyện các kỹ thuật được gọi là Subakhi.

Trong thời kì Cao Ly (918-1392), võ thuật Triều Tiên (Subakhi) được tập luyện phổ biến để tăng cường sức khoẻ và tự vệ. Có ít nhất là hai tài liệu được ghi chép trong thời gian đó cho thấy rằng Subakhi đã trở nên rất phổ biến đến nỗi nó được trình diễn trước mặt nhà vua. Điều này có nghĩa là Subakhi đã trở thành một môn thể thao được ưa chuộng và các chuyên gia cho rằng thời điểm đó người Hàn Quốc rất thích khía cạnh thi đấu của võ thuật.

Vào cuối thế kỷ 19, quân đội Triều Tiên suy yếu, người Nhật đô hộ đất nước. Sự áp bức của đế quốc Nhật Bản đối với nhân dân Triều Tiên rất hà khắc và việc tập luyện võ thuật bị cấm đoán. Tuy nhiên, các tổ chức kháng Nhật sử dụng Taekkyon (tên gọi khác của Subakhi) như một phương pháp huấn luyện tinh thần và thể chất. Ngoài ra, các du học sinh Triều Tiên tại Nhật Bản cũng hấp thu được các môn võ mới của Nhật Bản như Karate và Jujitsu. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành môn võ Taekwondo hiện đại sau này.

Trong nỗ lực thoát khỏi ảnh hưởng từ các môn võ thuật Nhật Bản và để phù hợp hơn với đặc tính của môn thể thao Taekyon truyền thống, Taekwondo hiện đại chú trọng đặc biệt vào những đòn chân (chokki, cước pháp) và nhấn mạnh tính chất thể thao của bộ môn thiên về những cú đá sử dụng bàn chân và cẳng chân. Các võ sĩ Taekwondo chuyên nghiệp đã làm cả thế giới ngạc nhiên với những màn biểu diễn đẹp mắt như nhào lộn công phá mục tiêu trên không hay những cú đá liên hoàn mạnh mẽ như sấm chớp.

Tuy nhiên, Taekwondo hiện đại cũng có một số lượng đòn tay (sugi) khá nhiều. Nếu xem xét các bài quyền và chương trình luyện tập, người tập dễ nhận thấy số lượng đòn tay của Taekwondo nhiều gấp ba lần các đòn tấn công hoặc phòng ngự bằng chân. Mặc dù vậy, trong huấn luyện và thi đấu với tư cách một môn thể thao hơn là một môn võ có giá trị tự vệ, Taekwondo đặt nặng vào vai trò của các đòn chân, nên đòn tay của môn phái không tránh khỏi sự mai một và ít được trau truốt, tinh luyện để đạt được tính hiệu quả.

Nguồn: Internet

0 Reviews

Write a Review

Read Previous

Tấn pháp, thủ pháp, tất pháp và cước pháp trong Võ cổ truyền Việt Nam

Read Next

Độc cô cầu bại Duy Nhất được lão võ sư phái Huỳnh Huynh Đệ hướng dẫn tuyệt kỹ môn phái

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *